PhienDaSau
Mar 1 2006, 05:56 AM
Những ca khúc của các tác giả trẻ hiện nay thường bị phàn nàn về ca từ. Những lời ca “sáo rỗng”, “nhạt nhẽo”, “phản cảm” … của các cây bút trẻ khiến thính giả chê bai, nhưng những ý kiến chê bai hầu hết là của các bậc cha chú, các nhạc sĩ đàn anh. Còn chính thế hệ trẻ, những người nghe đồng trang lứa với các tác giả trẻ, đối tượng chủ yếu để các tác giả trẻ gửi gắm những đứa con tinh thần của mình thì sao?
Không thể phủ nhận là đã có một lát cắt thẩm mỹ phân cách các thế hệ. Nếu như các thế hệ cha anh cho đến thời điểm này vẫn bảo lưu những thói quen khó bỏ khi nghe nhạc và đọc văn chương kéo dài từ thập niên 30, 40 thế kỷ trước thì tuổi trẻ hôm nay - những người thuộc thế hệ 7x, 8x, 9x … - đã có một cách nghe khác, cách đọc khác. Họ tiếp thu một nền văn hoá khác, nếu không phải là nền văn hoá @ - một khái niệm không xác định, thì cũng là một nền văn hoá có tốc độ cao hơn, nhịp điệu hối hả hơn và nhất là đã đô thị hoá hơn. Họ tập nhiễm một môi trường âm thanh khác với môi trường âm thanh mà cha anh họ đã tập nhiễm, ồn ào hơn và căng thẳng hơn. Do đó, ca khúc do thế hệ trẻ viết cũng mang những thuộc tính của môi trường và cảnh quan những năm cuối thế kỷ 20/đầu thế kỷ 21, trong khi các ca khúc của cha anh họ thuộc về một không gian khác – không gian cách nay gần một thế kỷ.
Sự khác biệt về cảm quan không chỉ thể hiện trong giai điệu, hoà âm, khúc thức … mà rõ rệt nhất là trong ca từ. Những ca từ của nhạc tiền chiến nằm trong từ trường của chủ nghĩa lãng mạn, với mùa thu, lá vàng, giọt mưa, lữ khách sầu mộng và nỗi nhớ vu vơ … không còn vùng cộng hưởng nào trong tâm hồn thế hệ trẻ. Ngay cả những chiêm nghiệm về đời sống và khoảng trống hiện sinh trong ca từ của Trịnh Công Sơn cũng đang trôi dần vào ký ức, dẫu không gian tâm cảm của nhạc Trịnh đến hôm nay chưa hẳn đã trở thành xa lạ. Các tác giả ca khúc trẻ phải tìm cách diễn đạt tâm cảm đương đại của mình, và dù muốn “ngoan” đến thế nào đi nữa, họ cũng phải dùng một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ cha anh họ đã dùng.
Trong số các tác giả trẻ, cũng có vài người thật sự “ngoan”, trung thành hết mực với các bậc tiền bối. Ca khúc của những tác giả trẻ này không trẻ chút nào, tâm cảm của họ dù ở cuối thế kỷ 20 vẫn phảng phất sương khói thế kỷ 19. Họ có thể là dấu nối, cây cầu chuyển tiếp giữa các thế hệ, dù chỉ là “cầu tre vắt vẻo gập ghềnh khó đi”, chứ không phải cầu cáp treo Mỹ Thuận! Còn phần lớn các tác giả trẻ, hoặc từ chối thứ ngôn ngữ than mây khóc gíó, hoặc không muốn từ chối - thậm chí còn muốn than khóc nhiều hơn – nhưng không dùng được thứ ngôn ngữ ấy, đã chọn cho mình một thứ ngôn ngữ gọi là thời thượng, vừa lủng củng tối nghĩa, vừa nghèo nàn trống rỗng. Họ có thể nhét vào ca từ đủ cả “I love you”, “web”, “telephone” … lẫn những khẩu ngữ hàng ngày, sống sượng và tầm phào. Họ sống như thế nào, nói năng và yêu đương như thế nào thì hát như thế, viết ca khúc như thế. Và điều quan trọng là họ đã tiếp thu thứ văn hoá nào thì “trổ” ra thứ văn hoá ấy ở sáng tác của mình.
Vậy họ đã tiếp thu thứ văn hoá nào? Những sản phẩm văn hoá “đầu vào” hôm nay vô cùng đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu là văn hoá nghe/nhìn. Văn hoá đọc của thế hệ @ bị pha loãng bởi các phương tiện nghe/nhìn, bị xé vụn bởi nhịp sống đô thị hiện đại gấp gáp hối hả, bị sấy khô bởi thói thực dụng ngày một phổ biến như một bệnh dịch. Sách bầy bán khắp các siêu thị, tràn ra vỉa hè, đủ mọi cấp độ tri thức, nhưng văn hoá đọc vẫn thụt lùi. Những người trẻ ngày hôm nay có nhiều kênh tiếp thu tri thức dễ dàng hơn, thú vị hơn việc đọc sách. Nhưng tri thức mà họ tiếp thu - hoặc do thúc bách của công việc hàng ngày, hoặc do mất thói quen suy tư - chỉ là những tri thức thực dụng, những tri thức công cụ, không giúp ích gì cho họ trong đời sống tâm lý cá nhân. Những người trẻ hôm nay đinh ninh rằng, xúc cảm và mơ mộng là chuyện lạc hậu, hoặc khi người ta sống “sành điệu” thì xúc cảm và mơ mộng chỉ có hại, hoặc xúc cảm là điều không cần phải học …
Thế nhưng, xúc cảm lại chính là điều cần học hơn cả. Văn học - thứ nghệ thuật dạy người ta xúc cảm - là nền tảng quan trọng nhất của văn hoá đọc. Không chịu đọc sách, hoặc chỉ đọc những thứ sách công cụ, khiến tâm hồn con người nghèo nàn và ngôn ngữ trở nên thô ráp. Ngôn ngữ trong ca từ phản ánh các cung bậc cảm xúc và ngôn ngữ tâm hồn của người viết ca khúc, đồng thời qua ca khúc, phản ánh văn hoá đọc của cả một thế hệ. Văn hoá đọc cho đến thời điểm này, bất chấp sự lên ngôi của các kênh nghe/nhìn hay âm thanh đắc thắng của thời đại internet, của kỷ nguyên kỹ thuật số, vẫn đóng vai trò cốt tử trong việc hình thành thế giới bên trong con người. Tất cả các loại hình nghệ thuật khác vẫn tiếp tục được xây dựng trên những nền móng mà văn hoá đọc thiết định.
Trong ca khúc, giai điệu hay hoà âm đều phản ánh văn hoá đọc của tác giả, nhưng ca từ là chỗ mà văn hoá đọc phơi bày rõ rệt như thể dưới ánh mặt trời. Văn hoá đọc không chỉ giúp cho xúc cảm trở nên tinh tế hay giúp cho ý tưởng trở nên sâu sắc, mà còn giúp cho việc diễn đạt xúc cảm và ý tưởng bằng những ngôn từ phong phú, đẹp đẽ. Nhưng đọc là một việc không đơn giản. Vấn đề là đọc cái gì và đọc như thế nào?
Thiên Lang-GiaiDieuXanh
PhienDaSau
Mar 2 2006, 09:33 AM
Tiếp tục câu chuyện về văn hoá đọc của nhạc sĩ
Thế hệ trẻ bị phàn nàn nhiều về văn hoá đọc, nhưng các thế hệ cha anh có vấn đề về văn hoá đọc không? Và văn hoá đọc thể hiện như thế nào trong các tác phẩm khí nhạc?
Thế hệ nào cũng có văn hoá đọc của mình. “Không gian sách” của mỗi thế hệ có thể hoàn toàn khác biệt nhau mà cũng có thể chồng lấn lên nhau, khoảng cách giữa các thế hệ càng xa nhau thì “không gian sách” của họ càng khác biệt. Khoảng cách giữa thế hệ nhạc tiền chiến và thế hệ những người viết ca khúc hôm nay đủ lớn để những cuốn sách trên tủ sách của họ và trong đầu họ không có sự “chồng lấn” nào cả. Các cậu trai cô gái thời @ gõ máy tính và xài điện thoại di động không đọc A.de Lamartine, A.Musset hay A.Vigny - những tác giả gối đầu giường của thế hệ tiền chiến – mà đọc J.K.Rowling hay H.Murakami, thậm chí chẳng đọc gì, chỉ xem phim Hollywood và nghe nhạc pop/rock thôi. Thế nhưng, thế hệ nào cũng có những vấn đề về văn hoá đọc, bởi việc đọc sách không đơn giản chỉ là … đọc, mà còn là đọc cái gì và đọc như thế nào.
Chính việc lựa chọn sách để đọc và khả năng tiếp thu những thông điệp thẩm mỹ của sách tạo nên cái gọi là văn hoá đọc. Đọc nhiều nhưng đọc toàn sách nhảm thì thà không đọc. Đọc mà không tiêu hoá nổi cũng thế. Văn hoá đọc phải được dạy dỗ từ tuổi ấu thơ, do các bậc cha mẹ và nhà trường. Chính vì vậy, nếu văn hoá đọc của thế hệ trẻ hôm nay yếu kém thì trách nhiệm cũng vẫn thuộc về thế hệ đi trước. Văn hoá đọc của thế hệ đi trước yếu kém khiến cho khả năng truyền đạt, giáo dục những giá trị thẩm mỹ cho thế hệ sau cũng yếu kém, và thế hệ sau “lãnh đủ”! Những người trẻ bao giờ cũng muốn khẳng định mình, khẳng định không gian cảm xúc và không gian tư duy của mình, bằng những cung cách “nổi loạn” chống lại các tập quán, các thiết chế văn hoá đối với họ đã trở nên xơ cứng và bảo thủ. Họ từ chối “không gian sách” của thế hệ trước không phải vì nó là của thế hệ trước mà vì nó không còn thích hợp với cảm xúc và tư duy của họ nữa.
Thế giới đã thay đổi, và để thích ứng, thế hệ trẻ phải đi tìm khuôn mặt của mình trong khung cảnh mới. Có thể đó là một khuôn mặt mờ nhạt và thô ráp, nhưng rồi thời gian sẽ mang lại cho nó những đường nét rõ rệt và tinh tế. Thế hệ cha anh của họ cũng đã từng như vậy, và theo vòng xoáy tiến hoá, khuôn mặt văn hoá của các thế hệ càng về sau càng mang những đường nét rõ rệt và tinh tế hơn. Chê bai một phác thảo hay một bản nháp là điều dễ dàng, nhìn ra chiều hướng phát triển và khả năng hoàn thiện của tác phẩm từ những phác thảo hay bản nháp mới là điều khó, bởi để có cái nhìn ấy, thế hệ cha anh cần có một tâm thế bao dung và một nhãn quan lịch sử.
Ngay cả thế hệ trẻ cũng cần có tâm thế bao dung khi “nổi loạn” để khẳng định không gian cảm xúc và không gian tư duy của mình. Không một dạng thức văn hoá nào lại không có sự kế thừa, vì văn hoá là một sinh thể có tính liên tục và giao thoa trong mọi toạ độ không/thời gian. Thế hệ nào cũng có một thời trẻ để tạo dựng khuôn mặt của mình. Và rồi thời gian sẽ mang lại cho khuôn mặt ấy những nét già nua. Những dấu ấn tinh thần của các thế hệ đi trước sẽ lưu truyền trong khuôn mặt của thế hệ kế tiếp, cả cái hay và cái dở. Lời phàn nàn của thế hệ cha anh về những cái dở của con em mình cũng là lời phàn nàn về chính mình. Tục ngữ Việt có câu “bắc cầu mà noi …” là vậy.
Để ngắt mạch “lý sự”, chúng ta có thể dẫn ra một ví dụ còn nóng hổi. Ca khúc “Mưa bay tháp cổ” của nhạc sĩ Trần Tiến vừa nhận giải “Bài hát được yêu thích nhất” do công chúng bình chọn trong chương trình tổng kết “Bài hát Việt 2005”. Âm hưởng dân gian và lối trình diễn “quái” của Tùng Dương khiến nhiều người có cảm tình với sáng tác của nhạc sĩ gạo cội này. Nhưng chỉ một chi tiết thôi cũng làm ca khúc ấy - vốn đã đoạt giải bài hát của tháng - “sụt giá”, đó là mấy từ “Nam mô Bút-đa” lạc lõng trong mạch cảm xúc về những ngôi tháp Chàm cổ kính chìm trong mưa bay. Những ngôi tháp ở Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương … thờ các thần linh Ấn giáo: Brahma, Vishnu, Shiva … chứ không phải là những ngôi chùa thờ Phật để tác giả có thể tuỳ tiện đưa vào một câu tụng niệm của Phật tử. Chi tiết phản cảm này không thể biện minh rằng đó chỉ là ngẫu hứng hay một trò chơi lắp ghép chữ nghĩa “hậu hiện đại”, mà nó phản ánh văn hoá đọc khiếm khuyết của tác giả ca khúc.
Những khiếm khuyết “có văn hoá” như thế cũng hiếm và có lẽ cũng chỉ thấy ở các tác giả thế hệ trước, còn ở các tác giả ca khúc trẻ thì hầu hết là những hạt sạn “gãy răng” trong câu chữ, thô thiển và vô vị. Sạn nhiều đến mức có không ít ca khúc người nghe chỉ thấy toàn là sạn, như thế không thể gọi là khiếm khuyết về văn hoá đọc được nữa mà phải gọi là không có văn hoá đọc.
o0o
Các tác phẩm khí nhạc thể hiện văn hoá đọc của tác giả như thế nào? Vấn đề này phức tạp hơn và đòi hỏi một khả năng thẩm thấu tinh tế hơn rất nhiều. Khí nhạc cũng như những loại hình nghệ thuật khác không sử dụng ngôn ngữ như hội hoạ, điêu khắc, múa … đều có liên hệ nhân quả sâu xa với văn hoá đọc. Tất cả các loại hình nghệ thuật – dù sử dụng ngôn ngữ hay không - có chung một nền tảng là thế giới nội tâm của con người. Hơn nữa, viết nhạc hay vẽ tranh … không chỉ là một nghề, mà còn là một học thuật.
Một nhạc sĩ khí nhạc hay một hoạ sĩ … có kiến văn rộng rãi, có tri thức phong phú không bó hẹp trong nghề của mình sẽ thủ đắc một năng lực sáng tạo mạnh mẽ hơn hẳn so với những người xa lạ với văn hoá đọc. Nhãn quan của họ rộng rãi hơn, cảm xúc của họ tinh tế hơn, ý tưởng của họ sâu xa hơn … vì, như một danh ngôn, họ “đứng trên vai những người khổng lồ”. Những người khổng lồ ấy là các tác giả lớn đã kiến tạo nền văn hoá đọc của nhân loại.
Thiên Lang-GiaiDieuXanh
[size=4]