Nhạc sến đã được bàn đi bàn lại nhưng đến hôm nay vẫn không hết thời sự. Dân gian có câu: “Bàn dai cho khoai bà nát”, nhưng khoai đã nát nhừ như … nhạc sến rồi mà vẫn chưa ra môn ra khoai, chứng tỏ nhạc sến là một đề tài muôn thuở.
Một năm, chúng ta chỉ có một ngày lễ Tình nhân thôi, lại là thứ ngày lễ nhập khẩu. Nếu không có món hàng nhập khẩu này thì cơ hồ chúng ta chẳng có ngày nào để tôn vinh tình yêu cả. Nhạc sến trong hình hài hôm nay là một cung cách khác để nhạc Việt tôn vinh tình yêu. Nghe có vẻ trái lẽ, vì nhạc sến toàn là nỉ non oán trách than thở, tóm lại là “não tình”, làm sao nó có thể tôn vinh tình yêu được? Nhưng trong ca khúc Việt, ngay cả toàn bộ ca khúc mà con người đã viết và đã hát, lượng tình ca/tình khúc chiếm bao nhiêu phần trăm? Có lẽ không dưới 90%. Và trong 90% ấy, bao nhiêu tình khúc có màu sắc “hồ hởi, phấn khởi”? Ít lắm. Còn hầu hết là màu sắc “âm tính”. Chính màu sắc “âm tính” tôn vinh tình yêu hơn bất kỳ một thứ cảm xúc “hồ hởi, phấn khởi” nào. Bởi nó chứng tỏ rằng, không có tình yêu, con người không thể sống được, không thể làm nghệ thuật được. Âm nhạc, hay bất kỳ một loại hình nghệ thuật nào khác, là sự thăng hoa (sublimation) của năng lượng sống, phân tâm học gọi là Eros – tên gọi của thần Tình yêu.
Tình yêu mà toàn hoa thơm quả ngọt thì … chán chết! Cầu được ước thấy sẽ làm con người trở nên lười biếng và nông cạn, và nhất là không có nhu cầu sáng tạo nghệ thuật. Chính vì những gập ghềnh trắc trở trong tình yêu và trong đời sống mà người ta phải bù đắp bằng nghệ thuật. Và hơn bất kỳ một chức năng nào, nghệ thuật – đặc biệt là âm nhạc – có chức năng mang lại sự an ủi và nâng đỡ tinh thần con người. Trái với quan niệm thông thường, rằng âm nhạc muốn nâng đỡ tinh thần con người phải có màu sắc “dương tính” - nghĩa là phải cứng cỏi, xốc vác, đầy khí thế …- như một dụng cụ thể thao vậy, âm nhạc lại đào xới nỗi buồn, sự mất mát, nỗi thất vọng … đến tận cùng để con người đi tới giới hạn của các cảm xúc “âm tính” rồi trở lại đời sống trên một bình diện khác, một tương quan xúc cảm khác. Chịu dồn nén để thăng hoa, từ các xúc cảm “âm tính” để kích hoạt năng lượng sống – nghệ thuật khởi đi từ nguyên tắc tương phản nhiều hơn là nguyên tắc song hành.
“Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, hạnh phúc như “miếng ngon” làm ta “nhớ lâu” nhưng nỗi bất hạnh như “đòn đau” lại khiến ta “nhớ đời”! Một mối tình đơn phương, một nhân duyên sóng gió khiến tâm hồn ta chao đảo và trống trải. Lúc ấy, hoặc chủ động đến với âm nhạc hoặc ngẫu nhiên bị cuốn vào một giai điệu “âm tính” nào đó, ta cảm thấy khoảng trống trở nên mênh mông hơn, nỗi buồn trở nên sâu xa hơn. Trong khoảnh khắc, ta như chạm tới giới hạn của cảm xúc con người và chính từ giới hạn tưởng chừng không thể chịu đựng nổi ấy, ta trở lại thăng bằng và phục sinh. Âm nhạc đã khai triển tâm hồn ta theo mọi chiều kích, bởi chiều kích “âm” cũng chỉ là đối xứng gương của chiều kích “dương” mà thôi.
Một vở cải lương mà không có những đoạn anh chàng kép độc nhả một mạch vài chục hay vài trăm từ không lấy hơi để rồi “xuống xề” buồn đứt ruột khiến bà con rút khăn tay chấm nước mắt lia lịa thì còn gì là cải lương nữa? Một cuộc tình cầu được ước thấy dẫn thẳng tới hôn nhân thì chỉ còn chuỗi ngày lặp đi lặp lại đối phó với nguy cơ buồn chán cùng hiểm hoạ … ly dị thì cần gì âm nhạc (trừ nhạc đám cưới)? Cuộc đời mà “đánh đâu thắng đấy” thì hà tất chúng ta cần đến thứ nghệ thuật nào ngoài nghệ thuật quảng cáo? Tình yêu của con người đầy gian truân, “mười phần chết bảy còn ba”, mới khiến nó trở nên quý giá và là đề tài bất tận cho nghệ thuật. Chính vì màu sắc “âm tính” của tình yêu mà một năm chỉ có một ngày lễ Tình nhân thôi, chứ 365 ngày Valentine cả thì … sống sao nổi?
o0o
Bây giờ trở lại chuyện “sến”. Chúng ta hay dùng khái niệm “sến” theo nghĩa “âm tính”. Nhạc “mùi”, nhạc “não tình” là những thứ nhạc mang màu sắc “âm tính”, bị bỏ vào một rọ và dán nhãn: “sến”. Nếu màu sắc “âm tính” là một thuộc tính của thế giới cảm xúc, hơn nữa, lại là một kênh cảm xúc chủ đạo, thì việc chống lại hiện tượng ca khúc “não tình” là một nỗ lực vô vọng. Nếu nó tồn tại trong đời sống là vì nó có những lý do để tồn tại, có những cơ sở tâm lý, cơ sở xã hội cho sự ra đời và lan tràn của nó. Không thể loại trừ nó như một cách thế biểu hiện cảm xúc, cho dù nó là một cách thế tiêu cực. Viết một tình khúc “hồ hởi, phấn khởi” là cực khó, nếu viết được một tình khúc “dương tính” thành công và để đời thì bạn có cơ may là … thiên tài. Còn viết một tình khúc “lâm ly, bi đát” nói chung là dễ ợt. Dĩ nhiên, viết được một tình khúc “lâm ly, bi đát” cỡ F.Schubert hay E.Grieg cũng là chuyện vài phần tỉ, nhưng để viết một thứ “não tình” như nhạc Việt đã có và đang có đầy rẫy thì là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Như thế, khái niệm “sến” theo nghĩa tệ nhất và cũng đúng nhất chính là sự phản sáng tạo, phi sáng tạo chứ không mang nội hàm “âm tính”. Những ca khúc sao chép vụng về chuyện đời thường, mô phỏng thô thiển các xúc cảm hời hợt, “sinh sản vô tính” khiến nhạc Việt lụt lội như hiện nay là kết quả của một văn hoá âm nhạc hạ cấp. Âm nhạc là thứ phải được giáo dục, và điều cần được giáo dục nhất là văn hoá âm nhạc. Cũng như mọi lĩnh vực văn hoá khác, để có văn hoá âm nhạc, tâm hồn con người cần được đào luyện bởi những tác phẩm âm nhạc đích thực – dù là những tác phẩm có màu sắc “âm tính” - chứ không thể là những đồ “dởm”, những ca khúc “sến” theo nghĩa phản sáng tạo như chúng ta đang “bị” nghe hiện nay.
Ngày Valentine bàn về “sến” để chúng ta đừng “sến hoá” luôn cả ngày lễ dễ thương này nhân danh nhưng ca khúc về tình yêu.
Thiên Lang-GiaiDieuXanh