Nói đến đời sống nhạc Việt, gần đây nhiều người thích dùng từ “bão hoà”. Nhưng cái gì bão hoà? Cung đáp ứng đủ cầu nên nếu cung thêm sẽ tạo ra sự thừa thãi, hay vì cầu xuống dốc nên cung có dậm chân tại chỗ cũng vẫn tạo ra tình trạng … chán mứa?
Ly nước nhỏ thì dù có thêm chút muối hay chút đường cũng sẽ làm lắng đọng những gì không còn hoà tan được nữa. Thị trường ca nhạc Việt vốn đã bé nhỏ và đơn điệu ngày càng trở nên chật chội hơn, không phải vì dư thừa các giọng ca, bởi lúc nào công chúng cũng chờ đợi sự xuất hiện của những gương mặt ca sĩ mới. Cứ nhìn vào các cuộc thi hát là biết. Sao Mai hay Sao Mai - Điểm Hẹn đều được công chúng quan tâm hơn cả mức chúng đáng được quan tâm. Tiếng hát Truyền hình Tp.HCM 2005 rơi vào cơn bão dư luận cũng vì khán giả màn ảnh nhỏ kỳ vọng vào cuộc thi “hơi bị nhiều” nên những chuyện chẳng ra đâu vào đâu của nó mới bị phơi ra như thế. Và như thế chứng tỏ ly nước nhạc Việt không hề nhỏ. Một thị trường hơn 80 triệu người không phải là một sân khấu làng, vậy mà vẫn bị biến thành một sân khấu làng vừa không có chỗ chen chân lại vừa lèo tèo thưa thớt. Toàn những nghịch lý!
Có 2 câu thơ từ thuở Thơ mới 1930 – 1945 có thể dẫn ra cho sân khấu ca nhạc Việt:
Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu,
Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người …
Đó chính là điều tạo ra cảm giác “bão hoà” của thị trường ca nhạc Việt. Dù “ra lò” nhiều gương mặt trẻ nhưng vốn liếng nhạc mục của ca sĩ chỉ có vậy thì công chúng vẫn uể oải và thất vọng. Ca sĩ có thể mới, người viết ca khúc có thể mới nhưng bản thân âm nhạc lại cũ kỹ rêu phong thì dù có bao nhiêu gương mặt mới cũng chỉ là “chừng ấy mặt người”, bao nhiêu kiểu cọ phá cách đi nữa khán giả cũng chỉ thấy “vài ba dáng điệu”! Tình trạng “sinh sản vô tính” của ca khúc việt đã trở thành căn bệnh khó chữa trị, đến mức các nhạc sĩ và ca sĩ là những người lẽ ra rất nhạy cảm với cái mới cũng yên trí tự tái bản mình liên tục, còn công chúng lại đinh ninh rằng nhạc Việt đang thời “đỉnh cao phong độ” nên cũng tự hài lòng với những suất ăn công nghiệp được cung cấp. Nhưng việc tự đánh lừa khẩu vị của mình không dễ dàng chút nào. Tiêu thụ mãi một thứ thực phẩm tinh thần, công chúng (hay nói đúng hơn là cái “cơ thể” luôn đói khát của công chúng) sẽ phản ứng và dù không biết là mình có thể hay có quyền đòi hỏi những món ăn khác hay không, cũng từ chối những món ăn đã nhàm chán. Ly nước lớn trở thành nhỏ, và thế là “bão hoà”!
Để cụ thể tình trạng này, có lẽ chúng ta cũng cần xem lại danh mục các nhạc phẩm được khai sinh vài ba năm qua để thấy những cái mới nằm ở đâu, cũng như xem các gương mặt ăn khách, các sản phẩm “hút hàng”, và ngay cả các tiêu chí bầu chọn “Chương trình của năm”, “Ca sĩ của năm” ..v..v… phản ánh sự “bão hoà” ấy như thế nào. Chỉ riêng việc nhà đài truyền hình “làm mưa làm gió” đời sống âm nhạc mấy năm qua với những chương trình định kỳ, nếu không nhàm chán và vô duyên thì cũng là các màn hồi cố và tưởng niệm, đã là chuyện đáng buồn. Nếu nói màn ảnh nhỏ góp phần bào mòn các sân khấu hay phòng trà ca nhạc thì quả là oan cho nhà đài, vì bản thân các sân khấu hay phòng trà ca nhạc cũng tệ hại chẳng kém. Vấn đề là thẩm mỹ âm nhạc của công chúng, nhạc sĩ, ca sĩ lẫn người làm chương trình đang ở đâu trên hành trình phát triển?
Có những giá trị âm nhạc đã được khẳng định, nói cách khác là đã được “đóng đinh”, tiếp tục tôn vinh những giá trị ấy là cần thiết, nhưng đào xới mãi, khai thác mãi, “phá cách” mãi cũng không làm những giá trị ấy lớn lên mà chỉ chứng tỏ thẩm mỹ âm nhạc của chúng ta đang sa lầy và ngưng đọng. Nhạc tiền chiến và ca khúc Trịnh Công Sơn là những ví dụ rõ ràng nhất cho tình trạng sa lầy và ngưng đọng, không phải thẩm mỹ âm nhạc của các tác phẩm này mà là thẩm mỹ âm nhạc của xã hội. Nhạc Việt có một khả năng hoài niệm gần như vô tận! Một CD như “Chat với Mozart” là ví dụ khác. Nếu trao giải “Cống hiến” cho “Chat với Mozart” thì nhiều người không hiểu là nó cống hiến cho cái gì? Cống hiến cho sự phát triển của nhạc Việt thì chắc chắn là không rồi. Đưa tinh hoa nhạc cổ điển châu Âu đến với công chúng Việt như thế chỉ làm hỏng nhạc cổ điển và làm méo mó nhận thức của công chúng về loại hình âm nhạc này. Việc bình dân hoá những nghệ thuật bác học không cống hiến gì cho nghệ thuật bác học mà chỉ thể hiện sự lạc hậu của cung cách tiếp cận các giá trị văn hoá nhân loại. Chẳng lẽ nó “cống hiến” cho W.A.Mozart?
Những lựa chọn của các cuộc thi cử bầu bán đã khẳng định sự “bão hoà” của đời sống ca nhạc Việt ở mọi phương diện - nếu dùng theo nghĩa tiêu cực. Tình trạng chưa no đã chán, chưa xem đã biết, chưa nghe đã thuộc … khiến những cái nhìn bi quan về tương lai nhạc Việt cũng như những dự đoán không mấy sáng sủa về sân khấu âm nhạc năm 2006 hoàn toàn có cơ sở. Cuộc “chạy sô” của ca sĩ, hết Nam tiến lại Bắc tiến, hết trong nước ra hải ngoại lại hải ngoại vào trong nước, như những vòng đèn cù “tít mù nó lại vòng quanh” vẫn mấy bóng hình ấy đã đủ làm các fan của nhạc Việt … nản! Ca khúc Việt hiện đại thì cứ pha chút âm điệu dân gian “làm màu” đã là … cách mạng, cuộc cách mạng diễn ra dễ dàng từ các bài hát của ca khúc gia chuyên nghiệp Lê Minh Sơn đến giải nhất “Bài hát Việt 2005” của ca khúc gia nghiệp dư Nguyễn Vĩnh Tiến! Công chúng còn chỗ nào để tự làm cuộc cách mạng thẩm mỹ âm nhạc cho mình nữa khi những cách tân vặt vãnh ấy đã “bão hoà”?
Cuối cùng, phải nói rằng, ngay cả việc phê bình hay tự phê bình cũng chẳng còn ý nghĩa gì, tác động gì. Chúng ta đã được chích ngừa đủ để yên trí với những thành tựu “đậm đà” và tự tin vào khả năng “tiên tiến” của mình vài thập kỷ nữa, vì lo âu hay chờ đợi đều “bão hoà” cả rồi!
Thiên Lang-GiaiDieuXanh