Trong đời sống ca nhạc, những gương mặt mới luôn là tiêu điểm của các sân khấu và các phương tiện truyền thông. Có là ngôi sao đi nữa thì tuổi thọ nghệ thuật của ca sĩ cũng phụ thuộc vào thị hiếu công chúng. Trong một môi trường “yên tĩnh” như nhạc Việt hiện nay, các ngôi sao có thể có tuổi thọ dài hơn nhưng điều đó không có nghĩa là họ được miễn nhiễm với quá trình thải loại, mà là vì công chúng không có nhiều khả năng lựa chọn.

Sự trì trệ của đời sống âm nhạc, nếu chỉ nhìn bề mặt, dễ quy kết cho sự thiếu vắng những gương mặt trẻ nổi trội trên sân khấu, nhưng ở bên dưới vài ba sự kiện hào nhoáng là cả một vùng “yên tĩnh”. Không có tác phẩm mới, nhất là không có những xu hướng hay trào lưu âm nhạc mới thì ca sĩ trẻ sẽ bứt lên từ bệ phóng nào? Ngay cả các ngôi sao đã thành danh cũng quanh quẩn với một số ca khúc cũ, khuynh hướng cũ, phong cách cũ đến mức mỏi mòn, để rồi “đánh bùn sang ao’’ bằng những “phá cách”! Nếu “bổn cũ soạn lại” còn đất diễn thì cũng có nghĩa là sự trì trệ nằm ngay trong thị hiếu công chúng. Thính giả nhạc Việt có khả năng trung thành với một không gian âm nhạc kéo dài cả nửa thế kỷ, để rồi nhạc sĩ và ca sĩ cũng kiên trì với thị hiếu ấy. Những yếu tố âm nhạc mới chỉ có vài rẻo đất nhỏ hẹp để gieo trồng nên không thể trổ cành xanh lá được. Rock, jazz, hip-hop …, bất chấp những cổ vũ cuồng nhiệt của các fans, đến nay vẫn không bén rễ nổi ngay trong công chúng trẻ.

Tóm lại, lỗi không của riêng ai. Nhạc sĩ chỉ sản xuất những sản phẩm mới theo phong cách cũ, công chúng kiên định thứ âm nhạc cũ, ca sĩ kẹt ở giữa còn biết hát cái gì? Những gương mặt ca sĩ mới muốn lên … không trung để thành “sao” cũng phải bay vào quỹ đạo của những lực thị trường đã ổn cố, không còn cách nào khác. Trên sân khấu tạp kỹ của nhạc Việt, những ca khúc trẻ sôi động chỉ dừng ở mức làm nền cho các vũ đoàn chứ không phải là các màn nhảy múa làm nền cho ca khúc, bởi yếu tố âm nhạc cùa ca khúc thường là rất tệ, bài nào cũng giống bài nào. Nghe Đàm Vĩnh Hưng và Thanh Lam “cải tiến” nhạc Trịnh Công Sơn hay nghe Quang Dũng ru “Hoài cảm” và Đức Tuấn lê thê “Áo lụa Hà Đông” …, bạn có biết mình đang ở toạ độ không/thời gian nào không? Hoặc đôi khi, trầm mình trong một “Dòng sông lơ đãng” để thấy dòng sông thời gian không hề trôi và thấy mình như một hiền triết … Bất cứ giọng hát trẻ nào rơi vào một vùng từ trường như thế cũng sẽ nhanh chóng biến thành gương mặt … muôn thuở!

Rơi vào vòng xoáy thị trường, nhạc Việt đã tự đánh mất khả năng cách tân vốn đã yếu kém của nó. Không phải vì quy luật thị trường xung đột với cái mới hay làm thui chột tiềm năng sáng tạo của nhạc sĩ và ca sĩ Việt. Thực ra, thị trường không nuôi dưỡng hay bảo trì cái cũ cũng như không đổ khuôn một thị hiếu nào làm chuẩn mực cho công chúng. Nhưng thị trường làm bong tróc những lớp sơn phủ giả tạo và làm lộ rõ diện mạo thực của nền âm nhạc. Khi thấy mình trong tấm gương, phiền muộn vì vẻ non nớt hay già nua trên gương mặt, chúng ta có xu hướng đổ tội cho tấm gương có nước thuỷ hỏng đã làm biến dạng chân dung “hoa hậu”. Nhưng nếu diện mạo thực của nhạc Việt là như vậy, chúng ta sẽ đổ tội cho cái gì?

Sở dĩ có tình trạng trì trệ của nhạc Việt là khi chúng ta đặt nó trong tương quan với thế giới bên ngoài, hay ít ra là trong tương quan với mong ước của những người yêu mến nó. Nhưng khi thị trường phơi bầy trong gương một hình ảnh không có gì để vui, một thực trạng lạc hậu khó chấp nhận về thẩm mỹ âm nhạc của cả công chúng lẫn nghệ sĩ thì chúng ta sẽ phải làm gì? Đập vỡ tấm gương để quay trở lại với những ảo tưởng về chân dung của mình như ngày xưa? Hay can đảm chấp nhận thực trạng và tìm cách thoát khỏi noạ tính của những thói quen, những ru ngủ, để những cái mới trỗi dậy từ chính sự can đảm đó?

Không chịu thừa nhận thực trạng lạc hậu hiện nay, nhạc Việt không có cơ hội nào để bứt phá dù trong tương quan với thế giới bên ngoài hay với mong ước của chính mình. Sự lạc hậu nằm ngay trong thẩm mỹ âm nhạc của nhạc sĩ, ca sĩ và công chúng. Sự lạc hậu nằm ngay trong thiết chế văn hoá âm nhạc, cái khung xã hội tạo nên cảm quan của người làm âm nhạc và người nghe nhạc. Sự lạc hậu nằm ngay trong mỗi hành động của chúng ta, khi chúng ta mua hay làm một CD, nghe hay dàn dựng một show diễn, đọc hay viết một bài báo … nghĩa là trong mỗi phản ứng của chúng ta trước thực trạng hàng ngày của nhạc Việt. Cách chúng ta buồn hay vui trước một vấn nạn thời sự, chặc lưỡi cho qua hay phẫn nộ trước một hiện tượng tiêu cực của đời sống nhạc Việt sẽ xác định toạ độ không/thời gian mà nền âm nhạc ấy sống trong thực tại và trong tâm tưởng mỗi người.

Những hạt giống mới chỉ có thể nảy sinh và phát triển trên một cách đồng được cày xới và chăm bón. Những yếu tố mới chỉ có thể nảy sinh từ một môi trường âm nhạc biết dị ứng với cái cũ, cái bảo thủ, cái lạc hậu. Những giọng ca mới chỉ có thể xuất hiện và thăng hoa cùng những ca khúc mới. Những ca khúc mới chỉ có thể ra đời với tâm cảm mới và viễn tượng nghệ thuật mới.

Và viễn tượng nghệ thuật mới chỉ có ở chân trời phía trước. Di sản là bàn đạp, là bệ phóng chứ không nên là gánh nặng. Một cộng đồng âm nhạc có tới quá nửa là những con người trẻ dưới 30 tuổi không thể nào tự đánh mất chân trời nghệ thuật của mình chỉ vì những thói quen cũ kỹ hay một mặc cảm nào đó.

Thiên Lang-GDX