Trợ giúp - Tìm kiếm - Thành viên - Lịch ghi nhớ
Phiên bản đầy đủ: Nhạc tiền chiến, xếp vào đâu cho...gọn?
Quang Dũng Fan Club > Góc dành cho Fan's QD > Thảo luận & Tranh luận
PhienDaSau
"Nhạc tiền chiến" là cụm từ đã gây nhiều tranh cãi trong giới sáng tác và phê bình âm nhạc từ nửa thế kỷ qua rằng từ ấy mang nghĩa thời gian hay phong cách âm nhạc. Giờ đây, thỉnh thoảng còn có người nói "Tôi hát thể loại tiền chiến", "Nhạc của tôi mang âm hưởng/mang phong cách tiền chiến". Vậy thực sự nên coi "tiền chiến" có vị trí như thế nào trong tiến trình nhạc Việt, và xếp nó vào chỗ nào trong danh mục thể loại nhạc Việt (nếu có thể)?

Về từ nguyên, không khó để hiểu ý nghĩa của cụm từ "tiền chiến". Sự phức tạp ở đây là "chiến" nên được hiểu là cuộc chiến nào? Vì sau thời Đổi mới, khi nhạc tiền chiến được trở lại trong đời sống âm nhạc, người ta thấy có từ những bài thời đầu Tân nhạc, trước Cách mạng tháng Tám, qua loạt bài ra đời vùng tạm chiếm thời kháng chiến chống Pháp, cộng vào vô số những bài hát ở miền Nam giai đoạn 1954-1975); hay gần đây, trong tuyển tập 100 ca khúc tiền chiến, người ta còn thấy có cả những bài như Tình ca (Hoàng Việt), Làng tôi (Văn Cao); nhớ lại thời kháng chiến 9 năm, các nghệ sĩ đã hát cả Trường ca Sông Lô (Văn Cao), Du kích Sông Thao (Đỗ Nhuận) có thay đổi chút ca từ (chẳng hạn bài Trường ca Sông Lô thay Volga, Dương Tử bằng Sông Gianh, Sông Hồng; Du kích Sông Thao thì đổi thành Khúc hát Sông Thao và bỏ đi tất cả các từ du kích) và giới thiệu rằng đấy là nhạc tiền chiến. Vậy "tiền chiến" ở thời "9 năm" và thời "Đổi mới" có gì khác nhau?

"Tiền chiến" của thời 9 năm được hiểu là những bài hát ra đời trước "Cuộc chiến tranh Việt - Pháp", cách người Pháp gọi cuộc chiến từ 1946 đến 1954. Như vậy những bài hát ấy hẳn là ra đời trong thời Pháp thuộc (trước 1945), nên được hát ở những vùng tạm chiếm là bình thường. Sau này, ở miền Nam trước 1975, "tiền chiến" được nới rộng mốc thời gian đến năm 1954 và từ đầu những năm 1990, nói đến "tiền chiến" là nhiều người đã coi luôn cả những bài hát trước 1975 ở miền Nam cũng là tiền chiến nốt, nhất là những bài của Cung Tiến, Văn Phụng, Ngô Thụy Miên...

Vậy là cũng có thể hiểu "tiền chiến" theo góc độ thời gian, theo 1 trong 3 cách quan niệm trên. Càng về sau từ này càng mất đi ý nghĩa thời gian, mà được hiểu là chỉ một dòng nhạc mà âm hưởng chủ đạo là lãng mạn. Vì thế, ngay ở hiện tại, người ta vẫn nói bài hát của nhạc sĩ này có hơi hướng tiền chiến, ca sĩ kia gắn bó với những bài hát tiền chiến và lãng mạn. Ở một góc nhìn nào đó, có thể nói "tiền chiến" và "lãng mạn" gần như là một, và người ta có thể dùng các từ ấy thay cho nhau để chỉ một dòng nhạc, một phong cách âm nhạc.

Như vậy không cần phải tranh cãi nhiều về "tiền chiến" dưới góc độ từ nguyên nữa, bản thân ngôn ngữ chỉ là quy ước và nó có thể thay đổi ý nghĩa sau một khoảng thời gian nào đó. Bây giờ, điều cần nói là chúng ta có thể nhìn tiền chiến như một thể loại âm nhạc được không hay chỉ đơn giản là một phong cách trong cái "đại chúng" hay "Tân nhạc" rất chung chung?

Nếu theo các tiêu chí xếp loại của phương Tây thì chúng ta đã có thể gọi "tiền chiến" là pop, rồi chia nhỏ thêm nữa ta có easy-listening hay M.O.R, chỉ dòng nhạc dễ nghe, êm ái. Nhưng như vậy rõ ràng là vọng ngoại quá, không cần thiết, khi mà chúng ta vẫn còn có một từ "tiền chiến", nghe vừa hoài cổ lại rất Việt Nam (cho dù nó là một từ Hán - Việt).

Về đặc điểm thể loại và đặc trưng ngôn ngữ âm nhạc của dòng tiền chiến, lãng mạn này, cuốn Âm nhạc mới Việt Nam - Tiến trình và Thành tựu (Viện Âm nhạc xuất bản - 2000) đã có phân tích tương đối kỹ, xin trích: "Bản chất nghệ thuật cùng quan điểm thẩm mỹ của trào lưu lãng mạn không những đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn chủ đề - đề tài, mà cả trong việc lựa chọn thể loại - loại hình và ngôn ngữ âm nhạc.
Ca khúc trữ tình: đặc biệt tình ca, trở thành một thể loại bao trùm, có tính chất chủ đạo trong dòng âm nhạc lãng mạn ở Việt Nam. Ca khúc trữ tình, tình ca rõ ràng chiếm ưu thế trong khuynh hướng thương cảm, bi ai, bởi lẽ nội dung cảm xúc ấy tìm đến hình thức diễn đạt này là thích hợp nhất. Và cũng chính ở thể loại này, chất thứ (minor hay mineur) đã nổi lên hàng đầu trong ngôn ngữ giai điệu, trong tư duy điệu tính. Ở những bài hát mang màu sắc vui vẻ, trẻ trung thì dáng dấp vũ điệu (tango, foxtrot, valse) nổi lên khá đậm nét. Ở một số tác phẩm, do đề tài mang tính kể chuyện nên được tác giả diễn giải theo kiểu ballade hoặc trường ca, là loại ca khúc mở rộng theo kiểu liên kết các đoạn (...).

Tư duy giai điệu vẫn là thước đo quan trọng nhất đối với một phong cách âm nhạc. (...). Ngôn ngữ giai điệu 7 cung trưởng - thứ châu Âu đã trở thành ngôn ngữ phổ biến trong dòng ca khúc lãng mạn và các dòng khác. Bên cạnh đó, dòng ca khúc lãng mạn cũng vận dụng cả loại giai điệu xây dựng trên cơ sở thang âm 5 cung phổ thông bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền dân tộc (...)".


Như vậy, là dù có thể vô tình nhưng các nhạc sĩ "tiền chiến" đã xây dựng nên một dòng ca khúc dựa trên những nguyên tắc thể loại rất cụ thể. Và nếu coi "tiền chiến" như một thể loại ca khúc lớn (bởi những sáng tác của thời này, của dòng này hầu hết là ca khúc, nhạc không lời có chăng cũng là chuyển soạn từ ca khúc) thì chúng ta đã có thể chia thành những dòng nhỏ hơn, như dòng lãng mạn (với Đặng Thế Phong, Văn Cao, Nguyễn Văn Thương, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh v.v - rất nhiều), dòng nhạc hùng (như các bài của Đỗ Nhuận, Văn Cao), dòng nhạc sinh hoạt (các bài của Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung), trường ca (những bài hát của Văn Cao, Lê Thương, Phạm Duy)...

Chính nhờ khán niệm "nhạc hùng" mà những bài cổ vũ lòng yêu nước chống thực dân Pháp của Văn Cao được hát thoải mái ở vùng tạm chiếm trong thời chiến tranh. Chúng ta không kể những bài hát sau này được gọi là nhạc cách mạng, cho dù cũng có vài bài hát dòng này "lọt" vào dòng tiền chiến do những điều kiện nghệ thuật và xã hội khác nhau, như trường hợp bài Sông Lô , Du kích Sông Thao vừa nói hay Sơn nữ ca, Lời người ra đi (Trần Hoàn) từ những khúc hát yêu nước, ca ngợi các anh chị du kích đã được "hô biến" trở thành những bản "tiền chiến" ướt át ở vùng tạm chiếm, đó là do nguyên nhân lịch sử.

Với sự phân loại tương đối cụ thể như vậy, chúng ta đã có thể hình dung rõ hơn chân dung của một dòng nhạc đã từng giữ vai trò tiên phong hình thành nền âm nhạc mới Việt Nam. Cái tên "tiền chiến" giờ không nên được đưa ra để tranh cãi hòng xác định mốc thời gian nữa, bởi nó đã được dùng để đặt tên cho cả một dòng nhạc mà những phong cách, đặc trưng của nó vẫn còn được tiếp biến đến ngày hôm nay. "Thể loại tiền chiến", nghe có vẻ không được "trơn tru" lắm nếu bị lấn bấn bởi ngôn từ hay bởi các tiêu chí xếp loại của phương Tây, nhưng có sao nếu ta coi đó là một "sản phẩm" của những người làm nhạc Việt Nam, như một dòng nhạc được đặt tên riêng sớm nhất sau cái tên chung "Tân nhạc".

Một thể loại âm nhạc có thể chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nào đó rồi biến mất hoặc biến đổi. "Tiền chiến" chứa trong nó cả giá trị thời gian với những thành tựu của quá khứ, và cả những giá trị phi thời gian khi âm hưởng của nó vẫn còn tác động không nhỏ đến sáng tác và biểu diễn âm nhạc ngày hôm nay. Và chưa ai có thể nói đến khi nào ảnh hưởng ấy sẽ ngưng khi mà những "tình khúc vượt thời gian" vẫn còn đang được yêu thích nồng nhiệt.

Nguyễn Minh-GDX
PhienDaSau
"Nhạc tiền chiến" - lẽ ra đã gọn ...

Trong bài viết: “Nhạc tiền chiến, xếp vào đâu cho...gọn?”, bạn Nguyễn Minh đề nghị “Cái tên "tiền chiến" giờ không nên được đưa ra để tranh cãi hòng xác định mốc thời gian nữa, bởi nó đã được dùng để đặt tên cho cả một dòng nhạc …”. Đề nghị này xem ra không ổn, bởi sự áp đặt chủ quan và vô lý của việc đó là khá rõ ràng.

Việc truy tầm từ nguyên của “tiền chiến” không phải quá khó khăn để đến nỗi chúng ta phải thắc mắc rằng, "chiến" nên được hiểu là cuộc chiến nào? Rồi những việc làm hết sức tuỳ tiện mà Nguyễn Minh đã chỉ ra như, … trong tuyển tập 100 ca khúc tiền chiến, người ta còn thấy có cả những bài như Tình ca (Hoàng Việt), Làng tôi (Văn Cao); nhớ lại thời kháng chiến 9 năm, các nghệ sĩ đã hát cả Trường ca Sông Lô (Văn Cao), Du kích Sông Thao (Đỗ Nhuận) có thay đổi chút ca từ (chẳng hạn bài Trường ca Sông Lô thay Volga, Dương Tử bằng Sông Gianh, Sông Hồng; Du kích Sông Thao thì đổi thành Khúc hát Sông Thao và bỏ đi tất cả các từ du kích) và giới thiệu rằng đấy là “nhạc tiền chiến”. Chấp nhận những tuỳ tiện ấy để rồi “hợp thức hoá” nó, đưa khái niệm “tiền chiến” thành một thể loại, chỉ làm mọi chuyện rối ren và cổ vũ cho khuynh hướng cẩu thả trong việc đặt tên, phân loại nhạc Việt. Và như vậy đã đi ngược lại chính mong muốn của Nguyễn Minh là lập một bản đồ nhạc Việt theo các đặc trưng thể loại một cách khoa học (xem “Những cuộc chạy trốn của nhạc Việt”).

Tiếng Việt không đến nỗi quá nghèo nàn để không tìm ra một từ khác thay cho “tiền chiến” nếu như muốn xác định một thể loại hay dòng nhạc cho những ca khúc tân nhạc thời trước chiến tranh chống Pháp (1946 – 1954). Theo tác giả bài viết, từ "tiền chiến", nghe vừa hoài cổ lại rất Việt Nam, nhưng chúng ta không có ý định “chơi đồ cổ” trong việc tạo thuật ngữ, dẫu xu hướng “chơi đồ cổ” đang xâm thực thẩm mỹ âm nhạc với những “tình khúc vượt thời gian” (có thể là nhằm cân bằng lại xu hướng “đương đại” vẫn còn khá xa lạ với tai thẩm âm của công chúng chăng?). Mặt khác, tiền chiến nghe chẳng Việt Nam hơn pop hay lãng mạn chút nào, nếu không nói là nó rất “Tầu”, lại còn sai lạc nữa. Những ca khúc như Trường ca Sông Lô (Văn Cao), Du kích Sông Thao (Đỗ Nhuận) … không có cách gì là “nhạc tiền chiến” được cả, bởi rõ ràng là nó được viết trong chiến tranh và nói về chiến tranh, ngay cả khi gán cho nó một cái tên kỳ cục là dòng “nhạc hùng” (!). Nếu có chút gì Việt Nam ở cách gọi tên như thế thì chỉ có thể là tính tuỳ tiện, cẩu thả của người Việt Nam ta mà ai cũng thấy ở khá nhiều lĩnh vực thôi!

Những ý kiến nhận xét trong cuốn Âm nhạc mới Việt Nam - Tiến trình và Thành tựu (Viện Âm nhạc xuất bản - 2000) được trích dẫn cũng không có chỗ nào định danh “thể loại tiền chiến” mà chỉ nói đến những “quan điểm thẩm mỹ của trào lưu lãng mạn” đã “đóng vai trò quyết định trong việc… lựa chọn thể loại - loại hình”, và “Ca khúc trữ tình: đặc biệt tình ca, trở thành một thể loại…”. Các nhạc sĩ “tiền chiến” đã tiếp thu âm nhạc phương Tây ở thời kỳ tiền chiến và xây dựng nền tân nhạc Việt Nam. Những gì các vị đó tiếp thu là các ca khúc lãng mạn Pháp giai đoạn trước 1945, do đó, chủ nghĩa lãng mạn với những đặc trưng nghệ thuật xác định là linh hồn của nhạc tiền chiến. Khi định danh thể loại “ca khúc trữ tình, tình ca”, cuốn sách của Viện Âm nhạc cũng dựa trên những tiêu chí về “hình thức diễn đạt”, còn “nội dung cảm xúc” vẫn thuộc từ trường của chủ nghĩa lãng mạn.

Những ca khúc trữ tình thời tiền chiến, theo cuốn sách, “… rõ ràng chiếm ưu thế trong khuynh hướng thương cảm, bi ai…” (có lẽ phải hiểu mệnh đề này là:… khuynh hướng thương cảm, bi ai rõ ràng chiếm ưu thế trong các ca khúc trữ tình tiền chiến …). Sau này, những ca khúc trữ tình trong thời chiến và thời hậu chiến không còn những màu sắc thương cảm bi ai nữa, nhất là ở thời “đương đại”, việc du nhập những khuynh hướng âm nhạc đại chúng của nước ngoài vào ca khúc Việt khiến thể loại ca khúc trữ tình trở nên quá “mênh mông”, đòi hỏi phải phân chia thể loại này thành những phụ lưu, những nhánh, những dòng nhạc nhỏ hơn. Và những nhánh, những dòng trước đó còn nhỏ hẹp đang ngày một bành trướng, phát triển mạnh mẽ dẫn đến việc định danh thể loại ngày càng phức tạp. Bản đồ nhạc Việt thời điểm hiện tại không còn đơn giản với hai khu vực lớn là thanh nhạc và khí nhạc, trong thanh nhạc thì có thể loại ca khúc trữ tình, và trong thể loại này có hùng ca, trường ca, sinh hoạt ca …(!).

Đời sống âm nhạc Việt đã giàu màu sắc hơn thế nhiều tuy phải nói là vẫn rất nghèo nàn và èo uột, vấn đề là chúng ta so sánh nó với nền âm nhạc nào và với chính nó ở thời điểm nào. Nhưng dẫu sao, nhu cầu chia thể loại và đặt tên cho các thể loại, hoặc đã ra đời và đang phát triển, hoặc còn manh nha trứng nước nhưng có tiềm năng, hoặc nhập khẩu từ Âu - Mỹ, hoặc là “vốn tự có” … thì việc xác định ranh giới thể loại hay đặt tên cho chúng cũng không thể tuỳ tiện như kiểu gộp mọi ca khúc có màu sắc lãng mạn vào một rọ và dán nhãn “Tiền chiến” cho nó được.

Ảnh hưởng của nhạc tiền chiến không phải ở cái tên tiền chiến cho dù “… âm hưởng của nó vẫn còn tác động không nhỏ đến sáng tác và biểu diễn âm nhạc ngày hôm nay…” mà là ở cái tâm thức lãng mạn “quá đát” ấy vẫn còn đang thao túng cảm xúc và viễn tượng nghệ thuật của nhiều nhạc sĩ, ca sĩ và công chúng nhạc Việt. Có lẽ cái âm hưởng ấy cũng còn khá lâu mới “nguội” bởi tâm lý xã hội, nhất là não trạng tiểu nông vẫn đang tạo ra những “hương xưa nếp cũ” đầy hoài cổ mà bạn có thể thấy hiện diện ở khắp nơi.

Nhưng dù thế nào đi nữa, không nên và không thể có một “thể loại tiền chiến” trong âm nhạc. Hãy định vị các tác phẩm “vượt thời gian” ấy một cách thành kính trong không gian và trong chính thời gian của nó. Việc chia thể loại cho nhạc Việt ở thời điểm này cần một hệ thuật ngữ khoa học hơn và có tương lai hơn.

Thiên Lang-GDX
Đây là phiên bản "lo-fi" của nội dung trang chính. Để xem phiên bản đầy đủ với nhiều thông tin hơn , xin hãy nháy vào đây.
Invision Power Board © 2001-2012 Invision Power Services, Inc.