Nửa thập kỷ đầu Thế kỷ 21 đã trôi qua, nền tân nhạc Việt Nam, nếu chấp nhận mốc ra đời năm 1938, thì đến nay đã sắp đến tuổi 70, một bề dày thời gian quá đủ để những người làm nhạc Việt nhìn nhận tiến trình phát triển và điểm ra những thành tựu của nền tân nhạc, nền âm nhạc đã thay đổi sâu sắc bộ mặt âm nhạc Việt. Nhưng sau gần 70 năm, Tân nhạc vẫn chỉ được nhìn một cách rất chung chung, không khác bao nhiêu thời nó mới ra đời trong khi nền âm nhạc đại chúng Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi, nhiều dòng nhạc mới xuất hiện từ sự du nhập các trào lưu và thể loại âm nhạc ngoại quốc, trong khi đó bản thân Tân nhạc cũng đã khác xưa rất nhiều.
Từ đây dẫn đến nhu cầu phân loại các dòng âm nhạc đang chung sống hiện nay trong đời sống nhạc Việt, với nhiều mục đích: công tác lý luận phê bình trở nên khoa học và cụ thể hơn khi đề cập tới các vấn đề của âm nhạc đại chúng; người làm nhạc, người nghe nhạc Việt có ý thức chắc chắn hơn về việc mình làm, về thứ âm nhạc mình nghe khi tiếp cận các phong cách âm nhạc mới; và nhất là để có cái nhìn cụ thể và kỹ lưỡng hơn về sự phát triển của Tân nhạc Việt Nam sau từng ấy năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc.
Loạt bài “Những cuộc chạy trốn của nhạc Việt” sẽ lần lượt đề cập đến các khái niệm thịnh hành trong âm nhạc Việt Nam từ thuở có Tân nhạc đến nay, về những tên gọi vẫn được dùng – như một thói quen - để chỉ các phong cách âm nhạc cũ, mới và tính chính đáng hay hợp lý của các tên gọi ấy. Tất cả các bài viết sẽ xuất hiện trên Bàn tròn Âm nhạc của Giai Điệu Xanh thời gian tới, nhất là với sự tham gia của đông đảo bạn đọc, hy vọng sẽ giúp gợi mở thêm nhiều góc nhìn phong phú về sự phát triển và những phái sinh của Tân nhạc Việt Nam.
o0o
Nhạc Việt, cuộc chạy trốn thể loại
Người nghe nhạc Việt hôm nay dễ rơi vào một trong 2 trạng thái: tự mãn và hoang mang. Tự mãn vì thấy nhạc Việt mình đâu kém cạnh thế giới, cũng có rock, cũng bắt kịp trào lưu hip-hop, có những ca sĩ hát R&B thiện nghệ, có world music đem dân ca Việt Nam đứng bình đẳng với jazz, với rock phương Tây, thậm chí có lúc nào đó hình như từng có country (ở đây được hiểu là đồng quê, âm hưởng dân ca, được một số người làm nhạc, viết báo dùng tiếng Anh cho… sang) và hiển nhiên là có pop. Chính vì thấy cái gì người ta có mình cũng có mà lại đâm ra hoang mang, hoang mang rằng liệu những thứ mình vẫn nghe ấy có thực là rock không, bởi thấy rock đích thực của Tây không phải như vậy, thấy hip-hop đặc trưng dân Mỹ da đen chẳng liên quan gì tới những thứ vẫn được gọi là hip-hop kiểu Sài Gòn, country thì chắc chắn không rồi vì nó là đặc sản của Mỹ, ra khỏi xứ Hoa Kỳ nó không còn là country nữa rồi, và pop thì rất chung chung, cái gì mà chẳng có thể gọi là pop được, nếu cho rằng pop là popular, là âm nhạc đại chúng, dễ nghe, dễ nhớ.

Bản chất việc phân loại tự phát của nhạc Việt hiện nay có thể coi như một cuộc chạy trốn, chạy trốn vào thể loại. Cũng na ná một cuộc chạy trốn khác đang thịnh hành bên ngành hội hoạ khi ngày càng có người thích lao vào những installation, performance tân kỳ chưa chắc đã vì ham thích khám phá cái mới, mà có khi là để chạy trốn sự yếu kém về hình hoạ.
Tương tự, một nhóm nhạc xưng là đại sứ rock Việt rất có thể chỉ coi “rock Việt” như một tấm bình phong để núp sau đó mà hù những rock fans có chút ít tinh thần tự hào dân tộc; còn bản chất rock như thế nào, nhất là “rock Việt”, nếu được coi như một thể loại âm nhạc, thì có đặc trưng ra sao, có thể miêu tả ngôn ngữ âm nhạc thế nào, đòi hỏi những gì ở “rock” và ở “Việt”… thì hầu như không rocker và rock fans Việt nào nói được. Khi Hà Dũng nói rằng bài Vào đời của mình là “rock ca trù” thì ta có nên hân hoan cho rằng một thể loại mới đã ra đời trong nhạc Việt được chăng? Và “rock ca trù” của Hà Dũng có giá trị ra sao khi so với “rock rừng” của Nguyễn Cường?
Nhìn sang hip-hop cũng vậy, chưa kể đến tình trạng mù tịt về văn hoá hip-hop ở nhiều người chơi nhạc và thưởng thức hip-hop, chỉ nguyên về âm nhạc thôi thì hip-hop đã là một thách thức lớn với sự hiểu biết của đa số những tín đồ hip-hop Việt Nam hiện nay. Nhưng có hề gì, khi hip-hop được coi là nơi nương náu của những gì thuộc về thời thượng, vốn phù phiếm và mong manh.
Và chúng ra sẽ còn thấy rất nhiều những lộn xộn về thể loại của nhạc Việt. Có thể nào lại đang hiện diện một thể loại “nhạc sang” như nhiều ca sĩ vẫn khảng khái tự nhận đang theo đuổi hay không? Và hiển nhiên đối nghịch với “sang” liệu có chắc rằng “thể loại nhạc sến” là sản phẩm của âm nhạc tại miền Nam trước 1975 không? Chơi nhạc âm hưỏng dân tộc Việt theo lối ngẫu hứng của Trần Mạnh Tuấn đã có thể coi là jazz Việt được chăng? Khi Đỗ Bảo gọi những bài hát mình sáng tác là “Bảo-pop” thì ta phải coi đó là thứ pop theo tiêu chuẩn nào, liệu một mình “Bảo” đã là độc tôn, là duy nhất chưa? Và nữa, world music của Quốc Trung đối với thứ nhạc gần như world music của Lê Minh Sơn khác nhau ra sao, và khi so với nhạc của Nguyên-Lê thì còn khác đến đâu?
Nhìn về quá khứ, “nhạc tiền chiến” liệu có thể coi là một thể loại được không hay tốt nhất hãy coi nó là một dòng âm nhạc có tính thời điểm, dựa vào chính tên gọi của nó? Nếu coi theo cách thứ 2, thì những bài hát hiện tại được cho là “có phong cách tiền chiến”, như thể có phong cách rock, phong cách jazz… làm sao mà gọi là “tiền chiến” được? Còn nếu coi là thể loại thì bây giờ có ai dám tự tin nói “Tôi viết nhạc tiền chiến!” không?
Một loạt những câu hỏi như vậy đến giờ vẫn chưa từng được trả lời thấu đáo. Người nghe dễ dãi chấp nhận thì tấm bình phong mà người sáng tác, người biểu diễn đã dựng lên càng thêm vững chắc. Trên bình phong ấy ghi đủ các thể loại mà người làm nhạc có thể nghĩ được ra, không cần kèm theo lời giải thích nào, và người nghe nhạc được “mặc định” phải tự hiểu, tự chấp nhận.
Làm sao để phân định thể loại cho nhạc Việt?
Quang DũngNền âm nhạc đại chúng Việt Nam vốn được du nhập từ phương Tây, ở thời điểm khởi đầu nó có cái tên Việt hoá là “Tân nhạc”, hoàn toàn không mang tính thể loại mà chỉ thuần tuý chỉ ra rằng một dòng nhạc mới, một phong cách âm nhạc mới đã xuất hiện. Còn trong dòng nhạc ấy có những thể loại gì, trong phong cách kia có những “tiểu phong cách” nào thì hầu như chưa từng được đề cập đến một cách đầy đủ.
Có lẽ sự “thoáng” trong cách gọi tên Tân nhạc ngày ấy đã là nguyên nhân dẫn đến sự lộn xộn về thể loại trong nhạc Việt ngày hôm nay, cũng bởi chưa từng có ai quan tâm nghiêm túc đến việc gọi tên những dòng nhạc, những thứ âm nhạc mới phát sinh hay vừa được du nhập. Chúng ta cứ thoải mái gọi chung là “nhạc Việt” rồi theo từng thói quen mà chia ra nhạc sang, nhạc sến, nhạc sung, nhạc buồn. Sau này, “tiến bộ” hơn thì bắt đầu dùng các khái niệm của phương Tây, vậy là bắt đầu thấy nói đến rock Việt, pop Việt, jazz Việt, New Age, world music, hip-hop…
Nhưng càng du nhập nhiều khái niệm cũng như càng cố gắng Việt hoá chúng thì nhạc Việt lại càng rơi vào thế luẩn quẩn. Bây giờ nếu mở một giải thưởng cho âm nhạc đại chúng Việt theo kiểu giải Grammy không biết chúng ta có thể lập được bao nhiêu hạng mục? Liệu có thể trao giải “Rock Việt xuất sắc”, “R&B Việt xuất sắc”, “Dân ca Việt xuất sắc”… được chăng? Và nếu coi rock là một sản phẩm phương Tây đã được người Việt chấp nhận và Việt hoá phần nào (để có được rock Việt) thì thực tế chúng ta đã du nhập thứ rock nào khi mà rock là cả một tiểu thế giới vô vàn nhánh rẽ, vô vàn phong cách phái sinh. Các fans của hard rock Bức Tường đứng ở vị trí nào mà đòi chê alternative rock của Trio 666 không phải là rock?
Còn nếu cứ tự cho rằng nhạc Việt chẳng cần phải học, phải bắt chước nước ngoài xếp loại tỉ mỉ hàng mấy trăm thể loại, phong cách âm nhạc thì các nhạc sĩ Việt Nam việc gì phải bận rộn tranh cãi về thể loại, bận rộn dè bỉu nhau về mức độ “không tới” khi làm nhạc này nhạc kia, ca sĩ chẳng làm gì cho mất thời gian khi cố mà nghĩ ra một thể loại nào để khẳng định sự chuyên nghiệp của mình, và nhất là các fans trẻ hơi đâu mà bận rộn tự nhận mình là rock fans, là hip-hop fans cho thoả mãn nhu cầu “sành điệu”?
Như vậy, nhu cầu phân định các thể loại cho nhạc Việt xuất phát ngay từ những nhu cầu thưởng thức bình thường của khán giả cũng như từ chính trong giới sáng tác, biểu diễn, và cả từ trong giới phê bình, lý âm nhạc. Người phê bình cũng rất cần biết cái thứ được gọi là “x, y, z + Việt” ấy thực tế nó là gì. Còn phân định thế nào, tỉ mỉ đến đâu, chẻ nhỏ phân nhánh đến mức nào thì hợp với thực tế nhạc Việt, chúng ta sẽ cùng nhau bàn tiếp trong bài viết sau.
Nguyễn Minh-GDX