Câu chuyện cuối tuần này là về vai trò của truyền hình cùng những hệ luỵ từ sự phát triển vượt bậc của văn hoá nghe/nhìn trong đời sống hiện nay. Văn hoá đọc trong tình cảnh bị văn hoá nghe/nhìn đe doạ nuốt chửng là chuyện khỏi phải bàn, vì đời sống đô thị đã cướp đi của con người rất nhiều thời gian và sức lực, và không chỉ thời gian và sức lực mà cả sự tĩnh tâm, khiến chúng ta dường như trở nên lười biếng hẳn. Nhưng còn việc nghe?
Trạng thái mệt mỏi, căng thẳng thường xuyên do cuộc mưu sinh và do những áp lực vô hình của cuộc sống hiện đại khiến con người ngại phải động não nghiền ngẫm, dù chỉ một trang sách. Sau một ngày làm việc vất vả, chúng ta chỉ muốn buông mình vào trạng thái thư giãn để xả bớt stress. Và những lúc như thế thì màn ảnh truyền hình là giải pháp tối ưu. Chúng ta lười đọc đã đành, mà còn lười cả nghe nữa. Để nghe một cách thực sự, con người phải vận dụng trí tưởng tượng trong một không gian được lọc bỏ các tín hiệu nhiễu, để âm thanh được vang lên với độ chuẩn xác và độ tinh khiết cao nhất. Điều đó có nghĩa là các tín hiệu thị giác không có chỗ trong một hoạt động nghe chuẩn mực. Bạn có nhận thấy là chúng ta thường khép mắt khi thưởng thức các tác phẩm âm nhạc kinh điển không? Khi ấy, chúng ta đang lọc bỏ các tín hiệu thị giác có thể gây nhiễu quá trình tiếp nhận âm nhạc.
Vậy tại sao lại có thực thể ghép: nghe/nhìn? Vì để sự nhìn hỗ trợ sự nghe khi sự nghe không còn đủ năng lực dẫn dắt tâm thức của con người nữa. Hoặc giả, sự nghe lúc ấy – lúc ta mệt mỏi và chỉ vận dụng rất ít năng lượng cho bất kỳ hoạt động nào – không thực là nghe mà chỉ là tiếp nhận loáng thoáng những tín hiệu thính giác, cũng như sự nhìn lúc ấy chỉ là sự tiếp nhận lơ mơ những tín hiệu thị giác. Để rồi cả hai kênh nghe và nhìn cùng vỗ về các sợi thần kinh mệt mỏi của ta, đưa ta vào một trạng thái nghỉ ngơi – và nếu có thể là một trạng thái nửa thức nửa ngủ - cho đến khi giấc ngủ thực sự cuốn chúng ta vào bóng tối êm ái của nó. Đó là bản chất của giải trí.
Ca nhạc trên truyền hình là một phương cách giải trí hữu hiệu khi vận dụng nguyên tắc giảm áp của văn hoá nghe/nhìn. Âm nhạc trên các kênh truyền hình là thứ âm nhạc thuần giải trí, do đó, nó là, và phải là, một màn tạp kỹ đủ để khán giả vui mắt, vui tai, thư giãn sau một ngày làm việc mệt mỏi. Nó không phải là âm nhạc “đích thực”. Mà đã là một màn tạp kỹ thì âm nhạc trên truyền hình phải cân bằng giữa hai yếu tố nghe và nhìn - thậm chí nghiêng hẳn về nhìn - để khán giả được giải trí chứ không phải động não cho những giá trị thẩm mỹ trừu tượng của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào, cả âm nhạc lẫn tạo hình hay văn chương …
Như vậy, chúng ta cũng có cả lời đáp cho câu hỏi vì sao nền âm nhạc của chúng ta nặng tính tạp kỹ đến thế. Là vì chúng ta không nghe nhạc một cách “nghiêm trọng”, mà chỉ giải trí. Nghệ thuật nào cũng có chức năng giải trí, nhưng tác phẩm nghệ thuật không chỉ thuần giải trí mà còn có chức năng giáo dục, phản ánh … tuỳ theo tính khả dụng của nó. Và hơn hết, nghệ thuật có chức năng thẩm mỹ. Chức năng này chỉ “xuất đầu lộ diện” khi có sự tham gia của trí não, nghĩa là khi chúng ta phải tiêu tốn một khoản năng lượng nhất định để tiếp nhận nó chứ không phải chỉ nghe và nhìn trong trạng thái mệt mỏi nửa thức nửa ngủ. Nghe một cách “nghiêm trọng” để tiếp nhận những thông điệp thẩm mỹ của âm nhạc thì còn gì là giải trí nữa? Thế cho nên hầu hết chúng ta dị ứng với thứ âm nhạc nghiêm túc, bởi âm nhạc nghiêm túc thì phải nghe một cách “nghiêm trọng”, không cho phép chúng ta vửa nghe vừa tán chuyện ồn ào, vừa uống bia hay nhai chewing-gum …
Các chương trình ca nhạc truyền hình ngày một bành trướng và có uy lực mạnh mẽ đối với đời sống ca nhạc khởi đi từ nhu cầu giải trí của công chúng và từ sự lười biếng cố cựu của những đôi tai thẩm âm. Chẳng cứ chúng ta mà ở nơi đâu tình hình cũng như thế. Văn hoá đại chúng không phải là sản phẩm của truyền hình mà là của bất kỳ nấc thang văn minh nào. Có như thế, các nhà lý luận mới có chỗ lên tiếng kêu gọi nâng cao mặt bằng thẩm mỹ xã hội và giáo dục âm nhạc cho quần chúng. Phương tiện hữu hiệu nhất để tác động vào đời sống xã hội là truyền hình - vì tính phổ cập cũng như hàm lượng hi-tech của nó - dường như lại đang làm hại các mục tiêu thẩm mỹ, khi truyền hình thao túng đời sống âm nhạc theo những chuẩn mực hết sức bình dân. Những lời than phiền, rằng các sân chơi âm nhạc đang tràn ngập màn ảnh nhỏ không tạo ra những chuẩn thẩm mỹ cao mà chỉ chạy theo thị hiếu bình dân, để hút tài trợ hay để phục vụ khán giả, không phải không có lý.
Nhưng truyền hình có thể làm gì khác với các sân khấu tạp kỹ dung tục, các live show màu mè nhạt nhẽo … vẫn diễn ra khắp chốn? Và ngay cả thị trường băng đĩa, thứ “thuần nghe”, có gì để chúng ta thực sự yên lòng, không phải lặp lại những than phiền đã trở thành mạn tính?
Vậy thì chúng ta chỉ có thể bằng lòng với những gì đang có, và hoan hô văn hoá nghe/nhìn, hoan hô “nhà đài”?
GĐXCT