Công chúng là lực lượng đông đảo nhất tham gia vào sinh hoạt ca nhạc và luôn có vẻ chiếm nhiều lợi thế trong việc tác động, điều khiển hướng đi của một nền âm nhạc. Nhưng số đông ấy dường như không được giới làm nhạc coi trọng đúng mức, bằng chứng là họ - tức công chúng - luôn phải chịu phần thiệt thòi trong mỗi vận động lên xuống của đời sống âm nhạc.
Khi nền âm nhạc phát triển, khi trăm hoa đua nở rực rỡ thì công đầu thường được giới sáng tác và biểu diễn giành lấy, còn khi sinh hoạt ca nhạc èo uột, nền âm nhạc xuống cấp thì kẻ chịu lỗi thường là công chúng, với cái tội không nhỏ là “thị hiếu thấp kém”. Vậy phải đánh giá vai trò công chúng thế nào cho đúng? Bài tham luận này muốn bắt đầu bằng việc..
... Định nghĩa thị hiếu
Nói “định nghĩa” nhưng phần mở đầu này không có tham vọng miêu tả xác định “thị hiếu” dưới góc độ từ nguyên mà muốn đặt cho nó một vị trí đúng hơn trong đời sống ca nhạc. Bản thân từ “thị hiếu” dường như vẫn được nhìn, được nghe một cách không thiện cảm, thể hiện qua những câu nói, những câu viết trên báo chí đại loại “Ca sĩ ấy chiều theo thị hiếu!”, rõ ràng trong những trường hợp như thế, “thị hiếu” là một cái gì đó rất tầm thường. Người ta không bao giờ nói một ca sĩ hát nhạc thính phòng là “chiều theo thị hiếu”, các ban nhạc rock cũng sẽ chối đây đẩy khi phải nhắc đến chuyện “phục vụ thị hiếu”. Nhưng xét cho kỹ, mối tương quan giữa ca sĩ nhạc sĩ, thị trường, ca sĩ hát cổ điển, ca sĩ, nhạc sĩ nhạc rock với “thị hiếu” cũng chẳng khác gì. Mỗi đối tượng nghệ sĩ phục vụ một đối tượng thị hiếu khác nhau. Nói cách khác, thị hiếu cũng có nhiều kiểu, nhiều loại, nhiều tầng và không thể đánh đồng cào bằng được.
“Thị hiếu” nói một cách đơn giản nhất chính là nhu cầu thưởng thức của công chúng. Mỗi đối tượng công chúng có thị hiếu khác nhau. Người lao động thích những gì dễ lọt tai, ca từ gần gũi với đời sống, với suy nghĩ của họ; lứa học sinh, thanh niên thích những gì trẻ trung, tươi mát, hơi bi lụy một chút cũng được vì gần với những cảm xúc mới lớn hay gắn với kỷ niệm về những mối tình tan hợp; giới trí thức hay kinh doanh thích nghe loại nhạc hoặc kích thích tư duy hoặc giải trí cho nhẹ đầu óc... Dù nhận định này không đúng tuyệt đối, vì vẫn có sự đan xen các gu thưởng ngoạn giữa các đối tượng thưởng thức, mà một thí dụ đáng buồn là trẻ em ngày càng có xu hướng thích nghe nhạc chỉ dành cho người lớn, cũng là do người lớn không chịu định hướng cho trẻ, nhưng không thể phủ nhận việc tuổi tác, ngành nghề, xuất thân, môi trường sống và làm việc có ảnh hưởng lớn đến gu thưởng thức nghệ thuật, ở đây chỉ xin nói gọn lại trong lĩnh vực âm nhạc.
Và phải khẳng định thêm một điều trước khi chúng ta chuyển sang phần tiếp theo, rằng ngoài những người trực tiếp “làm âm nhạc”: sáng tác, biểu diễn, phê bình, ghi âm... thì những người khác, cụ thể là công chúng không coi âm nhạc là chuyện sống còn của đời mình. Một nhạc sĩ thất nghiệp, một ca sĩ hết thời có thể phải chịu những tác động bất lợi lớn đến cuộc sống bình thường, nhưng một người nghe nhạc bình thường nếu không còn nhạc để nghe nữa cũng chẳng phải là thảm họa với họ. Nói như vậy để thấy việc cố ràng buộc thị hiếu, ràng buộc công chúng vào với âm nhạc là chuyện bất khả. Những nghệ sĩ sẽ phải tự thân vận động là chính trên hành trình nghệ thuật của mình, thành quả của việc vận động ấy chính là tình cảm của công chúng, là sự thu hút một kiểu thị hiếu nhất định nào đó về với loại âm nhạc mà mình đang sở đắc.
Tính tương tác của hành vi thưởng thức nghệ thuật
Sau khi đã hiểu rõ khái niệm về thị hiếu, về công chúng, chúng ta sẽ dễ dàng lý giải được những tác động của đối tượng này đến với sinh hoạt ca nhạc. “Thị hiếu công chúng chi phối mọi mặt đời sống ca nhạc” là điều thường được nói đến nhiều nhưng ít ai chịu cắt nghĩa sự chi phối ấy cụ thể ra sao, mức độ chi phối thế nào và các đối tượng chịu sự chi phối – giới sáng tác, biểu diễn – đã ứng xử ra sao với thị hiếu. Ngoài những câu nói chung chung “chiều/không chiều theo thị hiếu” các nghệ sĩ dường như chưa bao giờ hiểu cặn kẽ về tác động mình tạo ra đến công chúng.
Hành vi thưởng thức nghệ thuật có tính tương tác rất rõ. Một tác phẩm đến được công chúng, được chấp nhận tức là công chúng đã thừa nhận vai trò của người đã sáng tạo và truyền tải tác phẩm ấy đến với họ. Đó có thể không phải là một bài hát hay, một tác phẩm âm nhạc nhiều sáng tạo tìm tòi theo các tiêu chí chuyên môn, nhưng nó đã thành công trong việc tiếp cận công chúng, tức là đã hoàn tất hành trình của mình. Bản thân một bài hát, một bản nhạc không bao giờ có lỗi trong việc làm đẹp hay bôi xấu đời sống ca nhạc, bởi đơn giản nó chỉ là một vật vô tri, do một đối tượng này sáng tạo ra, đối tượng khác đem đi phổ biến và đối tượng thứ ba tiếp nhận. Với mỗi đối tượng lại có hành vi ứng xử với tác phẩm khác nhau, và tác động của tác phẩm đến đời sống nghệ thuật nói chung là cộng hưởng của cả 3 hành vi ứng xử vừa nói đến.
Một tác phẩm âm nhạc mà không có công chúng, không nằm trong vùng thị hiếu nào ngoài thị hiếu của chính người sáng tác, thì không thể coi là tác phẩm hoàn thiện. Công chúng ở đây có thể chỉ là 1 người, nhưng người ấy phải ở một vị trí độc lập với người sáng tác. Lý thuyết Bá Nha – Tử Kỳ nghe rất hấp dẫn nhưng phải được loại trừ các yếu tố thân quen, bạn hữu. Những ca sĩ phát biểu “Tôi không chiều theo thị hiếu!” e rằng họ đã nói thế trong tâm trạng thiếu tự tin hoặc, nặng hơn, coi thường những công chúng của mình. Bởi họ không nói tới thứ thị hiếu họ không chịu “chiều” là thị hiếu như thế nào, cao hay thấp.
Một ca sĩ đang ăn khách với những bài hát “thị trường” mà nói “Không chiều thị hiếu” thì rất có thể anh/chị ấy không chiều chuộng thị hiếu của người chuyên nghe nhạc cổ điển, nhạc “nghệ thuật” – vốn vẫn thường tự nhận là thị hiếu cao cấp; còn một diva, một ca sĩ chuyên hát “nhạc sang” mà nói câu đó thì nên ngầm hiểu rằng anh/chị ấy không hát cho đối tượng thị hiếu ưa chuộng “nhạc thị trường”. Nhưng không phải ai cũng hiểu điều đó, bởi như đã nói ở phần 1, thị hiếu có nhiều kiểu, nhiều tầng. Một ca sĩ chuyên hát nhạc nhẹ, một ngày ra album bán cổ điển rõ ràng cũng là một hành động chiều theo thị hiếu, cụ thể là thị hiếu của những người thích nghe loại nhạc ấy. Bởi những người làm ra sản phẩm âm nhạc kia cũng phải biết trước những người sẽ nghe mình là ai thì họ mới bắt tay vào sản xuất. Nghệ sĩ sáng tạo mà không biết đối tượng khán giả thưởng thức của mình là ai, đang ở đâu thì sẽ chỉ cho ra những tác phẩm không hoàn thiện (như vừa nhắc đến).
Như vậy thị hiếu, tức công chúng, có tác động rất lớn đến hành vi sáng tạo của nghệ sĩ. Dù cho công chúng có khi không đủ sức mạnh để hướng nghệ sĩ theo ý mình, nhưng ngược lại nghệ sĩ tạo ra xu hướng mới cũng cần phải được sự hậu thuẫn của những công chúng hoặc mới hoặc tự nguyện đổi mới. Người sáng tác, người biểu diễn không thể nào tự cho những sáng tạo của mình là mới khi cái “mới” của mình không được ai biết đến ngoài chính bản thân mình. Liệu pháp tinh thần kiểu “đời bất công với ta” không có ích lợi gì trong trường hợp này. Mọi đổi mới, cách tân, định hướng khán giả đều phải dựa trên nền tảng công chúng với những đặc điểm rất riêng, như sẽ được nói đến trong phần tiếp sau đây.
Sơ đồ thị hiếu và sự dịch chuyển các khu vực công chúng
Công chúng có nhiều đối tượng, như đã được nhắc đến ở trên. Ở các thị trường ca nhạc lớn, việc phân vùng thị hiếu đã là một hiện thực hiển nhiên, dễ thấy nhất khi ta đi vào một siêu thị băng đĩa, kiểu Tower Records. Nơi đó, mỗi người có thể dễ dàng tìm ra khu vực bán những sản phẩm hợp với sở thích của mình. Nơi đó những sáng tạo đậm đặc dấu ấn cá nhân và tiên phong đứng bình đẳng bên những gì kinh điển hay thời thượng. Nhưng ở ta hiện nay, việc công chúng cứ bị xếp chung một hàng gọi là “thị hiếu” thì việc khoanh cách vùng thị hiếu, để từ đó có những kế hoạch sản xuất âm nhạc, vẫn còn rất mù mờ và mang tính ăn may là chính.
Ở nhánh đầu tiên của sơ đồ công chúng, có thể đề cập đến 2 đối tượng khán giả: thụ động và chủ động. Khán giả trước nay vẫn thường “bị” coi là đối tượng thụ động, một phần do bản chất hành động của họ là thưởng thức những gì đã có và được người sáng tác, người biểu diễn đem đến; phần khác là do tâm lý “bề trên” của giới sáng tác, biểu diễn và cả phê bình nữa khi cho rằng mình mới nắm thế chủ động điều khiển công chúng. Nhưng, như đã nói, tác động của công chúng đến chuyển động đời sống âm nhạc là rất lớn, vì thế họ có thể chủ động mà không một nghệ sĩ nào được quyền coi thường.
Công chúng chủ động là đối tượng mà bằng chính sở thích cộng với sự hiểu biết sâu sắc về thứ âm nhạc mà mình say mê, dựa trên một nền tảng tri thức văn hóa, đã khiến nghệ sĩ phải hướng sang phục vụ họ, sản xuất các sản phẩm âm nhạc. So sánh hai đối tượng công chúng này sẽ là thừa, bởi không đối tượng nào có quyền tự cho mình tích cực hơn, và nhìn từ ngoài vào, một cách khách quan, cũng không thể nói thụ động là tiêu cực, còn chủ động là tiên tiến. Bởi nếu không có những người thụ động thưởng thức âm nhạc như một cách giải trí, sẽ không còn nền âm nhạc nữa. Còn không có những công chúng chủ động, chịu đổi mới bản thân thì chúng ta sẽ chỉ có một nền âm nhạc dẫm chân tại chỗ và rồi sẽ tụt lùi, xuống dốc.
Nhánh tiếp theo có tên “sở thích”. Có một sự nhầm lẫn rất lớn vẫn ngự trị trong lối thưởng thức từ trước đến nay, dẫn đến những ngộ nhận ở phía nghệ sĩ, rằng “thích” và “không thích” đồng nghĩa với “hay” và “không hay” trong khi khoảng cách giữa “thích” và “hay” cách nhau rất xa.
“Thích” chỉ là những cảm giác bất chợt, thuần túy mang tính giải trí, còn “hay” là đã có sự can thiệp của óc phân tích. Một tác phẩm âm nhạc đương đại hết sức mới, lạ lẫm và tóm lại là “khó nghe” vẫn có thể được một đối tượng công chúng nào đó thích thú vì nó đáp ứng được những tiêu chí cho sự “thích” của mình, còn những người không thích vì không nghe nổi, không hiểu gì có thể còn nhiều hơn, nhưng tác phẩm ấy có hay hay không thì cả người thích và không thích chưa chắc đã có thẩm quyền quyết định. Nó cần đến một sự phân tích, dù có thể sơ lược, với phương tiện là kiến thức âm nhạc, chứ không thể chỉ qua tai nghe.
Dù vậy, sở thích vẫn có tác động không nhỏ đến đối tượng sáng tạo. Có những nhạc sĩ, ca sĩ chỉ sản xuất bài hát ra để phục vụ cho sở thích, tức là cái gì đang được thích thì họ sẽ tìm cách nhân bản để cho khán giả được no nê. Chính những sản phẩm âm nhạc được gọi là “thị trường” đã ra đời như thế, chỉ để đáp ứng những sở thích, chưa hẳn là nhu cầu, của công chúng.
Sở thích sinh ra một kiểu thị hiếu, tạm gọi là “thị hiếu tạp kỹ”, thích cái gì hổ lốn, vui vui, nhộn nhộn, rất dị ứng với những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp vì cho rằng đó là “một màu”, là đơn điệu. Thị hiếu tạp kỹ ưa chuộng những show ca nhạc tổng hợp có đủ các loại nhạc nhanh chậm, sang sến, có múa minh hoạ, có tấu hài... coi như một show giải trí đã con mắt, thỏa đôi tai. Việc chạy theo thị hiếu tạp kỹ dẫn đến một kiểu sáng tạo tạp kỹ, ôm đồm càng nhiều thứ “trong 1” càng tốt. Trong bài hát có đủ hơi hướng Hoa, Hàn hay bây giờ có thêm ít gia vị Trung Đông; trên sân khấu ca sĩ nhất thiết phải nhảy múa quay cuồng với vũ đoàn; sân khấu phải là cuộc phô trương màn hình và ánh sáng với thật nhiều tâm sự kể lể, thật nhiều hình ảnh (có vẻ) trừu tượng... Và phần quan trọng nhất, là âm nhạc, cũng phải tạp kỹ theo, phải có bài nhanh, bài chậm, bài buồn, bài vui như tư duy làm album; phải thay thật nhiều trang phục v.v và v.v...
Công chúng theo thị hiếu tạp kỹ không có khả năng thích nghi với những gì có tính chuyên nghiệp cao. Họ sẽ không chịu được những album chỉ theo một thể loại âm nhạc, không chịu được một show nhạc cổ điển hay tác giả tác phẩm một phong cách. Đó là kiểu thị hiếu không dựa trên nền tảng là bề dày văn hóa, mà chỉ qua những cảm giác bản năng, thích thứ văn minh chợ phiên, cái gì cũng có. Nhưng họ không có lỗi trong cách thưởng thức ấy, cũng như đã là sở thích thì không nên tranh cãi và không có chuyện cao thấp. Nếu không chịu được họ sẽ không nghe, không xem. Họ chỉ vùng vẫy trong thế giới dành cho họ, thế giới âm nhạc tạp kỹ. Mỗi thứ một ít, cái gì cũng đơn giản, dễ tiếp nhận, vậy là đủ.
Khái niệm tiếp theo của thị hiếu, là sự dịch chuyển thị hiếu, sự thay đổi các khu vực công chúng.
Không khó khăn gì để hình dung tương lai của các thành viên những fanclub đang làm mưa làm gió hiện nay. Những cô cậu học sinh rất hào hứng khi vác băng-rôn cổ vũ thần tượng, gào thét lạc giọng, thậm chí ngất xỉu, thậm chí đánh nhau với fanclub khác để bảo vệ hình ảnh thần tượng, đến một ngày nào đó sẽ lớn, thành người trưởng thành, đi làm và lập gia đình, có con cái, khi ấy những hình ảnh nhộn nhạo ngày nào có thể chỉ còn là quá khứ ngộ nghĩnh với họ. Họ đã lớn và cùng với kinh nghiệm sống tích lũy được theo tuổi tác, gu thưởng thức âm nhạc của họ cũng sẽ khác. Họ sẽ không còn nghe nhạc để lấy le với bạn bè nữa mà chỉ nghe cho riêng mình, có thể họ vẫn thích nghe nhạc của thần tượng ngày nào nhưng trong một thái độ khác, đã biết hay, dở một cách tỉnh táo hơn nhiều thời trẻ con ngày nào.
Đây chỉ là một thí dụ dễ thấy nhất của việc thay đổi thị hiếu nghe nhạc. Còn nhiều kiểu thay đổi khác như chạy theo mốt rồi dần bị mê hoặc bởi mốt ấy (chẳn hạn mốt nghe nhạc rock, nhạc tiền chiến) hay nhu cầu nghe nhạc để trang sức cho vị trí xã hội của mình, trong trường hợp này hành vi thưởng thức thì một học sinh thành viên fanclub có giá trị tương đương với một vị giám đốc doanh nghiệp thường lui tới những phòng trà danh giá. Người thưởng thức âm nhạc thuần túy vì âm nhạc thì không phô trương, nên đôi khi có cảm tưởng là họ thật ít ỏi so với một “thị hiếu tạp kỹ” luôn luôn đông đảo và ồn ào.
Những ảnh hưởng ngoài âm nhạc đến thị hiếu công chúng
Ảnh hưởng đầu tiên, xin nói đến ngay, đó là những tác động từ giới truyền thông. Giới truyền thông, nhà báo, giới phê bình vừa có vai trò trung gian giữa người sáng tác-biểu diễn đến công chúng vừa đóng vai trò khi là những công chúng chủ động, có khi lại rất thụ động. Lợi thế của truyền thông là được “quyền” phát biểu những quan niệm của mình về thứ âm nhạc mình vừa được nghe theo quan điểm riêng của mình và tác động được một phần không nhỏ đến công chúng thuần túy thưởng thức. Tuy nhiên, chính lợi thế ấy đôi khi làm phát sinh nhiều rắc rối và nhiễu loạn thị hiếu.
Nếu một nhà báo, nhà phê bình có trình độ âm nhạc và đi xem một chương trình ca nhạc bằng cái nhìn khách quan, không bị chi phối bởi cảm tình cá nhân với người sáng tác – biểu diễn thì những gì được phát biểu trên phương tiện truyền thông sau đó sẽ khách quan, khen chê đúng và sẽ được công chúng tiếp nhận như một tham vấn hữu ích. Nhưng trong trường hợp nhà báo không hiểu nổi những gì mình được nghe, được xem và sau đó quy cái sự không hiểu (đương nhiên sẽ kéo theo không thích) về với sự “không hay”, thậm chí “dở” thì tác động đến công chúng sẽ là tác động xấu, khiến họ hiểu sai lệch về thứ âm nhạc mà lẽ ra nếu được thưởng thức trực tiếp họ sẽ có một cái nhìn khác với nhà báo, có thể là tích cực hơn. Trường hợp này tương tự với việc nhà báo ca ngợi hết lời một chương trình, một sản phẩm âm nhạc nào đó chỉ vì nó nằm trong vùng mình có thể thích được, hiểu được mà không cần đến một sự phân tích có tính nghệ thuật nào. Khi nhà báo, người năm vai trò phê bình còn mông lung về cái hay, cái mới, cái lạ thì công chúng lại càng dễ hiểu sai về sản phẩm âm nhạc mang những đặc tính ấy, rồi có người tỉnh táo hơn đi kiểm chứng lại và có thể sẽ mất niềm tin vào truyền thông. Đó là điều đáng tiếc vô cùng mà chắc không nhà báo nào muốn điều đó xảy ra.
Tác động tiếp theo đến từ chính những nghệ sĩ. Giới sáng tác và biểu diễn trong lúc chịu tác động từ công chúng vẫn có khả năng chi phối ngược lại. Người nào trọng sáng tạo có thể sẽ kéo được một bộ phận công chúng về với những sáng tạo của mình, từ đó hình thành những gu nghe nhạc mới; người nào trọng “thị trường” cũng sẽ biết cách làm ra những sản phẩm thị trường đang ưa chuộng, chừng nào thị trường còn thích thì họ còn tiếp tục sản xuất, không quan trọng chuyện đổi mới, cách tân. Trong cả hai trường hợp, vai trò của công chúng vẫn có tính quyết định, tất nhiên là với mỗi đối tượng công chúng khác nhau. Thị hiếu tạp kỹ không ủng hộ phe cách tân thì cũng tương tự những khán giả chủ động không thích phải nghe mãi những âm thanh, xem mãi những hình ảnh nhàm chán của sân khấu tạp kỹ. Sự mạnh-yếu của hai xu hướng này không phụ thuộc vào số lượng mà là chất lượng âm nhạc mà giới sáng tác-biểu diễn mang đến. Và cứ thế, quan hệ nghệ sĩ – công chúng được gắn chặt vào với nhau.
Thay lời kết
Bài viết nếu là một bài báo thì đã trở nên quá dài này chỉ muốn đưa ra cái nhìn nhiều chiều hơn về đối tượng vốn chịu nhiều thiệt thòi lẽ ra không phải chịu trong đời sống âm nhạc. Công chúng dù có tích cực hay tiêu cực, sến hay sang, tạp kỹ hay chuyên nghiệp thì cũng vẫn là đối tượng không thể thiếu và có vai trò cực kỳ quan trọng trong sinh hoạt ca nhạc. Họ đáng được đề cao hơn là bị đổ lỗi. Trách nhiệm của người nghệ sĩ là phải “đọc” được công chúng của mình để đưa ra những sản phẩm âm nhạc tử tế có thể thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của khán giả “thụ động“ nhưng vẫn có cơ sở để những khán giả “chủ động” tin tưởng, đó mới là cơ sở để một nền âm nhạc phát triển chứ không phải chỉ lo sáng tạo cá nhân rồi sau đó đổ lỗi cho cái gọi là “thị hiếu thấp kém”, bởi chẳng phải chính nghệ sĩ góp phần tạo ra thị hiếu đó sao?
Nguyễn Minh-GDX